Mộ của Phế, Hội huyệt của 2 kinh Thái âm của tay và chân.

Vị trí: Dưới cuối ngoài xương đòn gánh khoảng 01 thốn, hoặc giữa xương sườn 1 và 2, cách đường giữa ngực 06 thốn.

Giải phẫu:

Dưới da là cơ ngực to, cơ ngực bé, cơ răng cưa to, các cơ gian sườn 2. Thần kinh vận động cơ là dây thần kinh ngực to, dây thần kinh ngực bé, dây thần kinh răng to của đám rối thần kinh nách và dây thần kinh gian sườn 2.

Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C4.

Tên Huyệt: Phủ chỉ nơi kinh khí hội tụ. Huyệt là nơi hội tụ mạch khí của kinh Phế. Giữa ngực là nơi thần khí của Phế hội tụ, vì vậy gọi là Trung Phủ (Trung Y Cương Mục).

Tên khác: Phủ Trung Du, Ưng Du, Ưng Trung Du.

Xuất xứ: Thiên ‘Kinh Mạch’ (Liên Khu.10).

Đặc tính:

+ Huyệt thứ 1 của kinh Phế.

+ Huyệt Mộ nơi khí tạng Phế đến.

+ Huyệt Hội với Túc Thái Âm Tỳ.

+ Huyệt để tả Dương ở ngực (Nhiệt tà): phối hợp với Đại Cự, Khuyết Bồn và Phong Môn.

+ Huyệt quan trọng để chẩn đoán suy nhược thần kinh. Theo thiên ‘Điên Cuồng’ (LKhu. 22): Nếu ấn ngón tay trên những huyệt Trung Phủ (P.1), Vân Môn (P.2) và Phế Du (Bq.13) bệnh nhân cảm thấy khí nghịch lên, và nếu ấn mạnh hơn sẽ cảm thấy dễ chịu. Chứng minh rằng do rối loạn vận hành, biến nên điên cuồng. Vì thế, nếu rối loạn khí kèm theo bụng trướng, bụng sôi, ngực đè ép khó thở, phải châm 3 huyệt này.

Tác dụng: Thanh tuyên thượng tiêu, sơ điều Phế khí.

Chủ trị: Trị ho, hen suyễn, ngực đau, vai, lưng đau, viêm khí quản, lao phổi.

Châm cứu: Châm thẳng hoặc xiên hướng kim ra ngoài, lên trên, sâu 0, 5 – 1 thốn. Cứu 3 – 5 tráng – Ôn cứu 5-10 phút.